Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có trái pháp luật không? -

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có trái pháp luật không?

Xin chào luật sư Công ty LETO, tôi là nhân viên văn phòng cho một doanh nghiệp tư nhân và ký hợp đồng lao động trong thời hạn 24 tháng. Tuy nhiên, khi hợp đồng hết thời hạn, tôi vẫn tiếp tục làm việc cho doanh nghiệp bình thường (tính đến nay đã được 40 tháng) và không ký thêm hợp đồng nào khác. Hiện tại, chủ doanh nghiệp cho tôi nghỉ việc mà không có lý do. Tôi muốn hỏi việc doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động có đúng với quy định pháp luật không và nếu tôi nghỉ việc thì có được hưởng quyền lợi gì không?

Don phuong cham dut hop dong lao dong co trai phap luat

Ban biên tập Tư vấn pháp luật lao động Công ty luật LETO

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã quan tâm liên lạc tới Ban tư vấn pháp luật dân sự Công ty Luật LETO. Chúng tôi xin trả lời câu hỏi của bạn như sau:

Thứ nhất, việc chủ doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động với bạn mà không có lý do là không đúng theo quy định của pháp luật;

Thứ hai, khi chủ doanh nghiệp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, bạn sẽ được hưởng một số quyền lợi theo quy định của pháp luật. Bởi lẽ:

Căn cứ theo:

Theo khoản 1 Điều 22 Bộ Luật Lao động 2012 quy định về các loại hợp đồng như sau:

 Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

  1. a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

  1. b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

  1. c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng”

Cover Twitter-04

Như vậy, với trường hợp của bạn, hợp đồng lao động có thời hạn trong vòng 24 tháng nên hợp đồng này thuộc loại được nêu tại điểm b Khoản 1 Điều 22. Cũng theo Điều này, khoản 2 nêu rõ:

Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn”.

Với loại hợp đồng mà bạn đã ký kết, khi hết thời hạn (24 tháng) nhưng bạn vẫn tiếp tục làm việc cho đến 40 tháng mà không ký kết hợp đồng lao động mới trong vòng 30 ngày kể từ khi hợp đồng ban đầu đã hết hạn thì hợp đồng lao động của bạn sẽ đương nhiên trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Lao động.

Do đó, khi xem xét việc chủ doanh nghiệp muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn là có hợp pháp không thì cần xem xét quy định tại Điều 38 Luật này:

“1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

  1. a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;
  2. b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

  1. c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;
  2. d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.
  3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:
  4. a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
  5. b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;
  6. c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng”

Rõ ràng, nếu muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn thì phải tuân thủ một trong 4 trường hợp nêu trên đồng thời phải thông báo với bạn về việc này ít nhất 45 ngày (do hợp đồng là hợp đồng lao động không xác định thời hạn). Như vậy, việc cho bạn nghỉ việc mà không có lý do là không đúng theo quy định tại Khoản 1 Điều 38, hay nói cách khác đây là trường hợp người sử dụng lao động đơn phương châm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Xuất phát từ đó, chủ doanh nghiệp phải thực hiện với bạn một số nghĩa vụ căn cứ theo Điều 42 Bộ luật Lao động:

“1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

  1. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.
  2. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
  3. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
  4. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước”

          Từ đó, tùy vào tình huống thực tế của bạn mà bạn có những quyền lợi riêng thuộc vào một trong bốn trường hợp này.

Ban tư vấn pháp luật lao động hy vọng bạn tham khảo vả giải quyết được thắc mắc của mình. Nội dung tư vấn trên được xây dựng trên cơ sở thông tin bạn cung cấp và quy định của pháp luật. Trường hợp có vướng mắc phát sinh hoặc điều gì chưa rõ, bạn vui lòng trao đổi trực tiếp cùng luật sư tư vấn qua tổng đài 24/7 số điện thoại 1900 6258 hoặc gửi email: tongdaiphapluat@luatleto.com để được tư vấn, hỗ trợ từ Công ty luật LETO.


Công ty luật Leto Legal Công ty luật Leto Legal
910 21569

CÔNG TY LUẬT LETO LEGAL – VĂN PHÒNG LUẬT SƯ TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ:  Số9, TT Thủy sản Hà Nội, ngõ 46, phố Lê Văn Thiêm, P. Nhân Chính, Q. Thanh Xuân, Hà Nội
Điện thoại: 0243.533.5122  Fax: 0243.533.5122
Hotline: 0943393223 – 1900 6258

DMCA.com Protection Status